Bình Nguyên Xanh!

Mỹ Tho Đại Phố - Nên chăng?...

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 09:54
Năm nay, Thành phố Mytho rất phấn khích vì đã được nhà nước công nhận là "ĐÔ THỊ LOẠI 2". Cũng lại năm nay, TP này tổ chức lễ kỷ niệm 330 năm ngày thành lập Mỹ Tho Đại Phố.
Để thêm một cái nhìn về lịch sử và văn hóa, tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của Thầy Nguyễn Năm - Cựu giáo viên trường THPT Tân Hiêp-Tiền Giang để chúng ta cùng suy ngẫm...

" MỸ THO... 330 năm?

               Đúng? Nên hay không?


Địa chí Tiền Giang tập I ghi:...
Vào năm 1679, nhóm khỏang 3000 người Minh Hương được Chúa Nguyễn cho định cư vùng đất mới này . Trong nhóm có Dương Ngạn Địch đứng ra lập Mỹ Tho đại phố ở làng Mỹ Chánh , huyện Kiến Hòa . Khu đại phố này kéo dài tới cầu Vĩ , Gò Cát tức khu vực Mỹ Phong hiện nay ...( sđd. tr.84 ).

Có lẽ căn cứ vào đây , năm nay thành phố Mỹ Tho kỷ niệm 330 năm (2009-1679) Mỹ Tho đại phố( đô thị MT) . Về việc này, chúng ta xét theo phương diện khoa học lịch sử có đúng không ? ; theo quan điểm dân tộc , có nên không?

I/ Mỹ Tho đã có trước khi Dương Ngạn Địch (DNĐ) đến ở (1679):

•1-    Chúa Nguyễn xin đất cho DNĐ:

Trịnh Hòai Đức trong Gia Định thành thông chí (GĐTTC) đã xác định quan nhà Nguyễn dẫn DNĐ vào Mỹ Tho : ... Ngày 18 tháng 2, mùa xuân năm Kỷ Vị (1679) tướng Long môn là bọn DNĐ từ Đại Minh sang qui phục , Chúa sai xá sai Văn Trinh và Văn Chiêu đem dụ văn đưa sắc cho vua Cao Miên Nặc Thu chia đất cho họ ở . Tháng năm , Văn Trinh dẫn binh Long Môn đi thuyền tiến đóng ở địa phận Mỹ Tho "( GĐTTC bản dich nxb.GD tr.196).Năm 1679 đất Mỹ Tho vẫn còn trong quyền quản lý của vua Cao Miên là Nặc Thu , chúa Nguyễn phái hai vị quan mang dụ văn đưa sắc cho vua Miên xin đất cho DNĐ ở. Nếu thật sự DNĐ có công mở đại phố cũng không phải của đất nước ta .

•2-     Nguyên gốc từ Mỹ Tho(MT) : Vấn đề còn đang tranh cãi , tuy nhiên ta có thể biết từ MT nguyên gốc như sau :

•-         Gốc KHMER: Từ vị Tiếng Việt miền Nam , Vương Hồng Sển ghi " Mỹ Tho địa danh thuộc NV ( nay thuộc tỉnh Tiền Giang ) Cơ-Me : Srok mé sa , miso ( di cảo TVK trong Cisbassac) xứ (srok) có nàng con gái (mé) có nước da trắng (sa, so) nxb.Văn Hóa 1993 tr.470.

•-         Chữ Hán-Nôm ghi âm MT : 

+ " Mỹ" từ gốc Hán ghi thống nhất .

+ " Tho " từ tiếng Việt có 2 cách ghi âm "tho":

    ( thảo +thu) : vùng cỏ thơm ; dùng trong các bảng hiệu người Hoa , phần lạc khỏan hòanh phi , câu đối ...ở đình ,chùa ; câu 7 bài thơ tuyệt mệnh? khắc bên hông bia mộ TK/ Nguyễn Hữu Huân " Tho thủy". Đại Nam Quốc Âm tự vị Hùynh Tịnh Của ghi " tho có 4 nghĩa , trong đó nghĩa 2 " tên xứ Mỹ Tho tỉnh Định Tường " ( Sg 1895 tr.400).

     ( thủy+ thu ) : vùng nước thơm : dùng trong các sách : GĐTTC, Đại Nam nhất thống chí ...chỉ các địa danh : MT đồn , MT tram ...

      3- Vùng đất hoang Nam bộ vào thế kỷXVI -XVII có nhiều dân tộc

            khai hoang :

            Lịch sử Việt Nam tậpI của nhóm tác giả đã viết " ...Miền đất cực Nam là vùng đồng bằng sông Cửu Long tuy đất đai phì nhiêu nhưng dân cư còn thưa . Ở đấy , từ trước đã có nhóm di dân người Việt vào làm ăn . Họ là nông dân nghèo khổ di cư vào phương Nam cùng với người Chàm , người Khơ Me... khai khẩn . Sau đó chính quyền phong kiến họ Nguyễn cho phép những địa chủ , quan lại giàu có đem nô tì và chiêu mộ dân lưu vong vào khẩn hoang . Vào thế kỷ XVII một số quan lại , tướng tá nhà Minh , sau khi chống Thanh thất bại phải trốn ra nước ngòai . Họ Nguyễn đã cho trên 5000 Hoa kiều do Dương Ngạn Địch , Trần Thượng Xuyên cầm đầu vào khai khẩn vùng Mỹ Tho , Biên Hòa ..." ( nxb.KHXH - Hà Nội 1971 tr.295 ) .

•3-     Dương Ngạn Địch : tướng bại trận , cướp biển? , đánh thuê? , bị phó tướng giết .

Nếu lấy mốc 1679 để kỷ niệm 330 năm Mỹ Tho đại phố hay đô thị thì phải nói đến DNĐ . Theo "Tiến trình văn hóa VN từ khởi thủy đến thế kỷ XIX  " Nguyễn Khắc Thuần viết "... Nhóm Dương Ngạn Địch ( Dương Nhị ) cùng phó tướng Hòang Tiến men theo các cửa biển như: Xoai Rạp , cửa Đại , cửa Tiểu rồi lên định cư tại Mỹ Tho ...Năm 1688, nghĩa là chỉ mới 9 năm sau khi đến MT thì phó tướng Hòang Tiến nổi lọan và giết chết chủ tướng DNĐ . Cuộc xung đột nội bộ này đã khiến cho dân MT ( nhất là người Hoa mới di cư đến ) bị một phen hốt hỏang và bỏ chạy đi lánh nạn cũng không phải là ít . Đành là ngay sau đó , Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687 - 1691) đã sai tướng Mai Văn Long đem quân vào Nam dẹp lọan và Hòang Tiến phải chịu đền tội , song kể từ đó , sự bình an của MT không còn nguyên vẹn ..."( nxb Giáo dục tái bản 2008 tr.843). Nếu chi tiết về DNĐ dưới đây đươc kiểm chúng thì ta biết rõ hơn về con người thật DNĐ " ... Nhóm DNĐ từ khi xuống MT vẫn giữ y tổ chức vũ trang . Trước khi sang VN , DNĐ một thời nổi tiếng cướp biển ở phía Nam TQ , bảo vệ các thương thuyền của Trịnh Thành Công ở Đài Loan . Đến MT được 3 năm , một bộ phận của số này kéo nhau đi đánh thuê cho một ông hòang Khơ - me ..." ( Thân thế và sự nghiệp đức Ông Trần Thượng Xuyên - đình Tân Lân -lưu hành nội bộ tr.6)      

    II/ Mỹ Tho trong quá trình lịch sử Nam tiến :

          Trong bài "Vấn đề mở mang cương vực về phương Nam " trên tạp chí Xưa- Nay số 301 tháng 2/2008 Nguyễn Hữu Hiếu đã viết " ... Lịch sử mở mang bờ cõi về phương Nam chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử , nó vừa là hiện thực khách quan không thể đảo ngược vừa góp phần khẳng định bản lĩnh văn hóa và sức sống mãnh liệt của dân tộc Việt Nam . Vấn đề nay đã đến lúc , chẳng những phải nghiên cứu tường tận , mà còn phải công khai phổ biến rộng rãi ..." Theo đó , tác giả cho biết lịch sử Nam tiến bắt đầu năm 982 , vua Lê Đại Hành vào kinh đô Indrapura của Chiêm Thành nay thuộc Quảng Nam đến năm 1757 Nguyễn Cư Trinh xin Chúa Nguyễn lập 3 đạo : Châu Đốc , Tân Châu , Đông Khẩu kết thúc diễn trình Nam tiến .

          Ở Nam bộ ,việc Ngọc Vạn công chúa trở thành hòang hậu Chân Lạp , Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên giúp quân  đánh bại quân Xiêm, nên dễ dàng mựợn  Prey Nokor - sau này là Sai Gon lập đồn thuế thương chính để đến năm 1698 , Nguyễn Hữu Cảnh vào , theo lệnh Chúa Nguyễn ,lập Gia Định phủ với 2 huyện Phước Long và Tân Bình . Năm 1708 , Mạc Cửu dâng biểu xin cho Hà Tiên thuộc Đàng Trong , Chúa Nguyễn phong cho Mạc Cửu là tổng trấn Hà Tiên .

          Năm 1730 , người Chân Lạp nổi dậy giết người Việt , tràn xuống cướp phá Phiên trấn , Chúa nguyễn sai Trương Phước Vĩnh đánh dẹp tận Pnom Pênh . Quốc vương Sotha II sợ bỏ chạy , năm sau dâng 2 xứ Méso (MT ) và Longhor ( Vĩnh Long ) để chuộc tội và trở lại ngai vàng . Như vậy , Chúa Nguyễn chính thức có chủ quyền trên đất MT từ năm 1731.

III/ Kết luận :

•1-    Về phương diện lịch sử : MT 330 năm là không đúng .

•-         1679 : MT trên danh nghĩa vẫn còn thuộc quyền của Chân Lạp : quốc gia cần 3 yếu tố : lãnh thổ , dân tộc , chính quyền ; chưa có chính quyền thì không thể cho MT là lãnh thổ của Việt Nam . Việc này nhiều nơi đã thực hiện :

+ Thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 300 năm vào 1998 , đã lấy mốc 1698 : năm Nguyễn Hữu Cảnh vào lập Gia Định phủ với 2 huyện Phước Long và Tân Bình .

+ Hà Tiên : kỷ niệm 300 năm 2008 , đã lấy mốc 1708 : năm Mạc Cửu xin hàng phục Chúa Nguyễn để làm tổng trấn .

•-         Trước khi người Hoa , DNĐ đến thì đã có MT với nhiều dân tộc

khai phá.

•2-    Về phương diện dân tộc: MT 330 năm thì không nên :

•-         Phủ nhận công lao người Việt khai phá lập MT thành đầu mối liên lạc Sai gon và miền Tây trước khi DNĐ vào .

•-         Vinh danh DNĐ thì không nên : nhân dân ta rất công bằng đối với nhân vật lịch sử : Mạc Cửu , Mạc Thiên Tích ...được tôn thờ ở Hà Tiên . Đức Ông Trần Thượng Xuyên ( Trần Thắng Tài ) được thờ ở đình Tân Lân ( Biên Hòa ) được Bộ Văn Hóa công nhận di tích văn hóa lịch sử ( QĐ 457 25/3/1991) , khu mộ TTX ở xã Tân Mỹ , huyện Tân Uyên , tỉnh Bình Dương được công nhân di tích lịch sử cấp tỉnh ( QĐ 2941 ngày 4/7/2005 ). Còn DNĐ thì có gì ? phải chăng do việc làm lúc ở MT ?Dù cả hai TTX , DNĐ đều " phản Thanh phục Minh "thất bại cùng sang lánh nạn ở Việt Nam  vào năm 1679 .

                                                         NGUYỄN NĂM .

                                          


Tài liệu tham khảo :

•1-     Địa chí Tiền Giang : Tỉnh ủy, UBND/TG xb 2005.

•2-     Lịch sử Việt Nam tập I nxb.KHXH 1971 .

•3-     Tạp chí Xưa - Nay Hội KHLS/VN số 301 2/2008 .

              Địa chỉ liên hệ :

                          Nguyễn Văn Năm .

                    Cựu giáo viên THPT Tân Hiệp - CT- TG .

             Email : nguyennamcttg@gmail.com

               ĐT : 0733.896.273 .  


VỊNH ĐÁ...

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 19:58
 

Nhân có vài hình ảnh và bài haiku "Đá Ba Chồng" mà của MB đã post lên Bình Nguyên Xanh vào ngày 16-11-2009, anh Hoàng Giang (Quảng Ninh) có một bài thơ rất tình  để họa bài thơ ảnh này. Đã hứa với anh mấy hôm rồi, bữa nay MB mới họa lại bài thơ của anh. Xin cám ơn anh Hoài Giang  và trân trọng  giới thiệu cùng các bạn hai bài xướng họa về ĐÁ!

 

TÌNH ĐÁ


Ắt hẳn nên duyên đá mới chồng
Mưa nắng bao đời vẫn như không
Sắt son tình đá quen mà lạ
Người nỡ vô tình sao đứng trông

H-G

 

 

 

 

 

GỞI ĐÁ VỌNG PHU

 

Đá chồng lên đá vẫn Đá Chồng
Vọng phu hóa đá mỏi mòn không?
Một đời ôm ấp quen mà lạ
Trọn kiếp không về vẫn đứng trông...

M-B

 24 - 11

 


CHÂN DUNG 100 NHÀ VĂN...

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 19:18

Vừa qua, trên trang của NHÀ VĂN TRẦN CHIỂU có đăng phần di cảo của nhà thơ Xuân Sách viết về Tố Hữu (Bài do con trai của Xuân Sách giới thiệu trên phongdiep.net. Nếu có nhã hứng, bạn có thể [BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ COI])....

Những ý kiến trong di cảo này có liên quan đến TP "Chân dung  nhà văn" của nhà thơ Xuân Sách, từng được NXB  Văn Học ấn hành năm 1992 và gây khá nhiều sự chú ý của dư luận. Nay Mạnh Bình xin đăng lại TP này. Nguồn: http://thocon.vnweblogs.com.

 

1. Hồ Phương


Trên biển lớn mênh mông sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.


2. Nguyễn Đình Thi



Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ. 

 

3. Tô Hoài


Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.

4. Nguyên Hồng


Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say

5. Nguyễn Công Hoan


Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chửa xong bác đã cười.

6. Nguyễn Tuân


Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền.

7. Huy Cận


Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gày quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!

8. Xuân Diệu


Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có, có gì chung.


9. Tế Hanh


Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.

10. Chế Lan Viên


Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
Chim báo bão, lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ,
ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu, ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn
Hội nhà văn


11. Nguyễn Thi


Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bến cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.


12. Kim Lân


Nên danh nên giá ở làng
Chết về ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.


13. Tú Mỡ


Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.


14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)


Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn, ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.


15. Hoài Thanh


Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan


16. Vũ Tú Nam


Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Con về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào:
Văn Ngan


17. Hữu Mai


Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.


18. Đỗ Chu


Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò


19. Xuân Quỳnh


Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chồi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn


20. Phạm Tiến Duật


Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!


21. Nguyễn Thành Long


Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên đến lúc già.


22. Đào Vũ


Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc đâu rồi mất cả tên


23. Nguyễn Bính


Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.


24. Nguyễn Văn Bổng (không có hình ảnh )
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh.


25. Nguyên Ngọc


Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu


26. Vũ Thị Thường ( Không có hình ảnh )
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn


27. Quang Dũng


"Sông Mã xa rồi tây tiến ơi"
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người
Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng, Ba vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
"Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
28. Mai Ngữ ( Không có hình ảnh )
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ


29. Nguyễn Khải


Cha và con và... họ hàng và...
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát


30. Hoàng Trung Thông


Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm


31. Chính Hữu


Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.


32. Thanh Tịnh


Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được, tơ lòng gió bay.


33. Chu Văn (Không có hình ảnh )
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mới kéo cày cho xong.


34. Ngô Tất Tố


Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.


35. Nam Cao


Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
36. Xuân Thủy ( không có hình ảnh )
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Vonga
Trên đời kim cương là quý nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa.


37. Lưu Trọng Lư


Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.


38. Nguyễn Khoa Điềm


Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Cất lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a Kai ơi
Ngủ ngon a Kai à...


39. Nguyễn Kiên


Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho.


40. Anh Thơ


Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.


41. Xuân Thiều


"Đôi vai" thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.


42. Nguyễn Thị Như Trang( Không có hình ảnh )
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.


43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)


Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.


44. Nguyễn Thế Phương

( Không có hình ảnh )
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.


45. Vũ Trọng Phụng
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.


46. Xuân Thiêm (Không ảnh)
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.


47. Đào Hồng Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi.


48. Nguyễn Quang Sáng

Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.


49. Hoàng Văn Bổn


Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảng đất này hoa héo khô.


50. Phù Thăng


Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.


51. Nguyễn Thị Ngọc Tú
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay


52. Vũ Cao


Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang


53. Phan Tứ
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.


54. Nguyễn Huy Tưởng


Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người ở lại
Bốn năm sau khóc oà.


55. Thu Bồn


Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.


56. Bùi Hiển


Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm "nằm vạ"
Trước cửa hội nhà văn.


57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.


58. Nông Quốc Chấn


Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió, ngày là hồ Tây.


59. Thế Lữ


Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.


60. Nguyễn Minh Châu


Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi đi ra những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?


61. Phạm Huy Thông (Không ảnh)
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Vũ có lên ngôi hoàng đế
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời chẳng còn gì, và thơ cũng thế.


62. Giang Nam


"Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm"
"Có những ngày trốn học bị đòn roi"
Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.


63. Bằng Việt


Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi đến
Mây che một khung trời
Đất sau mưa sụt lở
Mầu mỡ trôi đi đâu
Còn trơ chiếc guốc vàng
Trăng mài mòn canh thâu.


64. Nguyễn Trọng Oánh


Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lội chốn rừng già
Quay về không chịu ơn mưa móc
Đất nắng mưa rồi đất lại khô.


65. Nguyễn Xuân Sanh


Xưa thơ anh viết không người hiểu
"Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà"
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.


66. Thâm Tâm
"Người đi, ờ nhỉ, người đi thật"
Đi thật nhưng rồi lại trở về
Nhẹ như hạt bụi, như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.


67. Nguyễn Huy Thiệp


Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.


68. Phùng Quán


Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.


69. Tố Hữu


Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường, hoa ở đây.


70. Dương Thu Hương


Tay em cầm bông bần ly
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước lúc rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.


71. Hữu Thỉnh


Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về hội nhà văn
Ờ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trên một chiếc xe tăng.


72. Trần Bạch Đằng


Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ


73. Nguyễn Duy


Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai?
Chẳng ai đáp lại lời của tôi.


74. Nguyễn Mạnh Tuấn


Anh đã đứng trước biển
Cù lao Chàm kia rồi
Nhưng khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.


75. Trần Mạnh Hảo


Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay


76. Hoàng Cầm


Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.


77. Lê Lựu


Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng, xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mỹ hai lần
Biết rồi, khổ lắm, nói mãi


78. Vũ Quần Phương

Anh đứng thành tro... em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi trong vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.


79. Hữu Loan


Ôi màu tím hoa sim
Nhuốm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tìm mãi nghìn
chiều hoang
biền biệt


80. Lý Văn Sâm
Kiên Trì dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.


81. Tản Đà


Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giộc mộng con suốt một thời bơ vơ
Tiếc chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.


82. Lưu Quang Vũ


Cũng muốn tin vào hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết1


83. Hà Minh Tuân
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?


84. Minh Huệ


Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi


85. Văn Cao


Thiên thai - từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca


86. Ma Văn Kháng


Khi xuôi anh mang theo
Đồng bạc trắng hoa xòe
Với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
Năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thành
Vì giấy gía thú chửa làm xong


87. Vũ Bão


Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đàu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim.


88. Hồ Dzếnh


Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vẫn lẩn khuất trong mây
Lui về ký ức chân trời cũ
Uống chén rượu buồn không dám say.


89. Hoàng Phủ Ngọc Tường


Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi!


90. Phạm Thị Hoài


Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên số đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.


91. Thanh Thảo


Giặc dã yên rồi về
xoay khối vuông Ru bích
Đoán vận rủi may
Thưa quý vị, xin mời1
Xanh tím trắng đỏ vàng đều rõ hết
Ta cùng vào cuộc chơi.
Không gian bốn năm chiều,
thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật gỉa trắng đen
"Tôi như cục xà bông thứ thiệt"
Cứ đổ rượu vào
hình quý vị sẽ hiện lên.


92. Trần Dần


Người người lớp lớp
xông ra trận
Cờ đỏ
mưa sa
suốt dặm dài
Mở đột phá khẩu
tiến lên
nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng
đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
Vọng hải đài.


93. Khương Hữu Dựng


Ba lô trên vai từ đêm mười chín
"Một tiếng chim kêu sáng cả rừng"
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đấy cụ già Khương?


94. Bùi Minh Quốc


Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
Lại xung phong vào Nam đánh giặc
Với bà cụ đào hầm đầu bạc phơ phơ
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới
Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao
Dẫu thân thể mang đày thương tích
Thì cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao!


95. Ý Nhi


Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối, sợi ngang thì chùng.


96. Yến Lan


Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng xưa đã lớn, phải chong đèn dầu


97. Phan Thị Thanh Nhàn


Dấu một chòm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu, những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.


98. Trần Đăng Khoa


Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
"Biển một bên và em một bên".


99. Hoàng Lại Giang


Người đàn bà một thời tôi ao ước
Trên vành đai Mỹ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức
Nhưng còn đây tàn lụi đến bao giờ?


100. Xuân Sách (Tự hoạ)


Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cụm đường rách tả tơi.


đá ba chồng - haiku (3)

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 19:00
 

    Trên đường Saigon-Dalat, có một thị trấn nhỏ mang tên Định Quán. Cảm hứng cho du khách qua nơi này chính là thắng cảnh Đá Ba Chồng. Dưới đây là vài bức hình mà MB ghi lại trong buổi chiều 14/11/09 và bài Haiku (3) do MB sáng tác rồi tự "khắc" lên đá!




 ĐÁ BA CHỒNG

 

xuôi ngược đường thiên lý

đá chồng đá đứng chọn quê hương

 ngơ ngác chùm cỏ úa

 

Định Quán - 14/11/09

           MB


Cận cảnh
 
 
 
 
 
Sau cỏ
 
 
 
 
"Mệt quá đôi chân này"...
 
Bài Haiku của Hồ Tĩnh Tâm họa đá
 
 
Đá ba chồng nhưng lạnh
nỗi riêng mình vắng cánh sen xưa
gọi mùa em về chưa
 
Dzu-HTT

kiếp người mỏng lắm!...

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 01:37

Thầy Đặng Mạnh Hùng (bìa trái)
cùng tổ Thể Dục, trường THPT NĐC Mỹ Tho
*Ảnh chụp Tháng 3-2009*

 

 

    VĨNH BIỆT THẦY ĐẶNG MẠNH HÙNG!

       

  
  Thật đau lòng nhìn vào tờ Cáo Phó...


Chẳng ai ngờ thầy Đặng Mạnh Hùng, tổ trưởng tổ Thể dục của trường THPT NĐC lại ra đi nhanh như thế! Còn nhớ cách đây vài tuần, Thầy dù mệt nhưng vẫn tham gia gác thi học kỳ 2, thế mà do căn bệnh hiểm nghèo, thầy vội ra đi ở cái tuổi 53 đầy cay nghiệt!

   

Cô Mỹ Dung (áo xanh) đang an ủi vợ Thầy Đặng Mạnh Hùng

 

    11g00 ngày Thứ Ba, ngày 19-5-2009 tiếng trống báo kết thúc buổi  học sáng của trường THPT Nguyễn Đình Chiểu - Mỹ Tho bất thường gióng lên: Nhà trường đã cho Giáo viên và học sinh nghỉ sớm hơn thường lệ 10 phút để ra trước cổng trường, tiễn đưa linh cữu thầy Đặng Mạnh Hùng lần cuối..

 

 

Trước cổng trường, hàng trăm giáo viên và hs đang lặng lẽ chờ ... 
 
 
Chiếc xe tang chở linh cữu Thầy Đặng Mạnh Hùng
chầm chậm ngang qua cổng trường rồi dừng lại... 
 
 
Đội Kèn Tây tấu lên khúc nhạc: Trở về mái nhà xưa!...
Nhưng sẽ chẳng bao giờ thấy Thầy tươi cười bước vào cổng trường này nữa! Thầy đã mãi ra đi...
 
 
 
TRỞ VỀ MÁI NHÀ XƯA!...

 
 
 
 
    VĨNH BIỆT THẦY ĐẶNG MẠNH HÙNG!

 


HOA NGÀY 20 - 11

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 22:39
 
 
 
 
 
Những Đóa Hoa Diệu Kỳ, kết tinh Sắc Màu từ Đất và Nước, tỏa Hương trong Khí Trời và đọng lại vào Ánh Mắt...
 
HOA NGÀY 20 - 11 
 
BNX  TẶNG CÁC BẠN  NHÂN NGÀY 20/11

VUỘT MẤT!

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 23:59

Theo Zdu về Saigon dự đám giỗ Ông Nội của Zdu. Vui quá! Hai ngày Vui trong tình cảm gia đình. Nhưng thôi rồi! Tôi lại vuột mất cái mà tôi nghĩ rằng sẽ không thể mất...


ĐÁNH RƠI!

 

Đó là chiếc đồng hồ Gucci Black and White mà tôi đã nhắc tới trong "Nhịp Thời Gian": Đã bao đêm tôi nhìn thấy chiếc kim phút trườn qua kim giờ ở vạch số XII...

Đây là lần thứ hai tôi đã đánh rơi!

Lần đầu tiên là chuyến độc hành phương Bắc, khi tôi về thị trấn Chũ - Lục Nam ở Bắc Giang thăm cháu. Buổi tối, đứng ở vạt cỏ gần nhà gọi phone vào Nam, khi vào nhà, thấy cổ tay trống trải thế nào. Giật mình nhìn lại: Ôi thôi, Gucci đã rơi mất tự bao giờ! Cầm đèn pin ra rọi kiếm cũng vô hiệu. Lại cả đêm trằn trọc! Sáng sớm hôm sau, tôi huy động hai đứa cháu trai ra phụ kiếm với lời hứa: Đứa nào tìm thấy, ông sẽ mua cho một chiếc đồng hồ mới coóng! May sao, cháu An kiếm được. Mừng quá, tôi chở nó ra ngay thị trấn Chũ, mua cho nó cái đồng hồ điện tử loại tốt. Lại nghĩ: Nhà có hai đứa cháu trai, cả hai đều ra sức tìm kiếm giúp ông. Thôi thì mua luôn cả cặp giống nhau (bởi chúng là anh em sinh đôi). Về tới nhà, thằng Thắng hớn hở chụp ngay lấy chiếc đồng hồ của nó và liếc qua chiếc của thằng  An rồi sụ mặt xuống: "Cháu không chịu đeo đồng hồ giống nó!". Đành phải chở nó ra tiệm đồng hồ, đổi cái khác!

Nhưng lần này thì...

17g30 ngày 7/10.08, (Thời gian của tôi bao giờ cũng đặt nhanh hơn người đời 5 phút...), tôi đội mưa từ Cây Gõ Saigon chạy về nhà anh Nhạn ở Mỹtho theo lời hẹn cùng Zdu. Tới Bến Lức, mưa mịt mù! Tấp vào quán quen ven đường để uống ly Café chống cơn buồn ngủ sau 3 đêm thức trắng. Nhìn chiếc Gucci mà tôi đã quen đeo vào cổ taybên phải: Hơn 18g rồi. Lại trùm áo mưa, chạy!

Về tới nhà Đỗ Nhạn, trời cũng sụt sùi mưa....

Đường lầy sình và ếch nhái râm ran...

Rồi thì cuộc hội ngộ của những người lính chiến và cũng là bạn học thời sinh viên. Lại vui nổ trời! Lại quên cả thời gian...

Khi tôi và Zdu về tới nhà, lối 22g. Giật mình giơ tay phải lên nhìn thì chiếc Gucci...hỡi ơi!..

Đoạn đường gần 50km từ Bến Lức về  tới Mỹtho! Gucci ơi, em ở nơi nào?

BÌNH NGUYÊN XANH

 



hạt cầu vồng

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 01:05

 

 

HẠT CẦU VỒNG

 

Yêu! Giọt nước mắt của Hạnh phúc và khổ đau
Long lanh bảy sắc cầu vồng tình ái.
Yêu!Giọt nước mắt rơi vào trời đêm thăm thẳm
Xoắn siết con tim dù trẻ hay già...
Nhà Phật nói rằng "Đời là bể khổ"
Bể trầm luân dâng ngập cũng vì yêu!

Anh là nhà thơ ư?
Anh có thể thương vay khóc mướn
Nhưng khi đã yêu, nước mắt kia là máu nhỏ vào thơ
Trước sân khấu cuộc đời thường treo hai mặt nạ
Cả mặt khóc, mặt cười giọt nước mắt đều rơi!

 

Viết vào Ngày Trùng Bát 18-8-2008 

             Mạnh Bình 


NHỊP THỜI GIAN

Suy ngẫm — Viết bởi binhnguyen @ 21:30

 

 

NHỊP THỜI GIAN

 

( Viết tặng Hồ Tĩnh Tâm và bạn bè tôi  nỗi nhớ tiếng Tắc Kè )


 


    Tắ
c kè!...Tắc kè!…
    Nó lại xuất hiện rồi đấy! Tiếng nó dồn cục, đẩy vào bóng đêm những âm thanh gân guốc và hoang dã. Theo kinh nghiệm của người miền ngược, cứ đếm số tiếng kêu, ta có thể biết  tuổi của chúng. Mỗi lần theo chu kỳ, cứ khoảng một tiếng đồng hồ, nó nấc lên để tự gọi tên mình: “Tắc kè!”…
    Con tắc kè này chắc khoảng bảy tuổi rồi đây

***

Tắc kè! Tắc kè…
     Thoạt đầu, tiếng cùa nó đĩnh đạc điểm vào bóng đêm cứ như tiếng tiếng AK điểm xạ hai phát một của lính thiện chiến vậy. Nhưng đến đoạn cố sức ở cuối mỗi chu kỳ, tiếng nó nhão ra mệt mỏi: “Tắc…k…è…” rồi tắt ngấm.
    Tôi giật mình! Hình như nó đang làm thơ đấy, thơ kiểu tắc kè: “Trắc…bằng-Trắc… bằng…”
    Ừ! Chắc là nó nhạo mình đấy.  “Tắc…rồi!… Tắc... rồi!...”
    Tắc thật! Dán mắt vào màn hình: Vẫn chẳng ra hình thù gì! Bài thơ mộng mị  rối bời mà từ tối tới giờ tôi gõ rồi lại xoá, nhưng nó vẫn cứ rời rạc và mệt bã người như đoạn cuối của đoản khúc của Tắc kè vậy.
    Hay  tôi cứ mô phỏng tiếng kêu của hắn: “Trắc… bằng… Trắc… bằng…” có khi lại hay cũng nên!
    Mà không phải! Nó đang nhắc: “Trễ rồi…trễ rồi…” đấy chứ!
    Đêm khuya lắc. Tôi lại dán mắt vào chiếc đồng hồ . Đó là chiếc đồng hồ của  hãng thời trang  ”GUCCI” danh tiếng. Nó cứ sáng rực lên bởi sự tương phản của hai màu đen trắng. Đồng hồ chỉ có hai kim và chỉ với bốn điểm định vị giờ chia đều trên mặt. Thế nhưng nhìn nó, tôi vẫn xác định được chính xác từng giây phút quý giá đang trôi qua.
     ! Thời gian  của người lúc nào cũng tất bật đến hối hả, vội vàng; còn tôi thì lại cứ dềnh dang chậm chạp đến bực mình...

Tắc kè…Tắc kè!...
     Đúng là Nó đang gõ nhịp thời gian dùm tôi thật: “Mất… còn… Mất… còn…”.
    Hai màu đen trắng: Ngày và Đêm. Trên mặt chiếc GUCCI, hai kim đang quay tít như trên màn hiện sóng ra-đa, một tiếng đồng hồ mới chồng lên nhau một lần rồi lại hối hả quay…


***

Tắc kè! Tắc kè…
    Tôi bỗng nhớ hồi năm 71, đóng quân ở vùng núi Mai Sưu, Lục Nam Hà Bắc. Đó là nơi mà cánh lính chúng tôi gọi là “Thủ đô Tắc Kè”. Lính mới xa nhà, lên thấy rừng núi hoang vu đã buồn. Nhưng đêm đến phiên trực gác mới thấy hết được nỗi buồn não ruột. Trong đêm khuya, tiếng tắc kè cứ âm u từ tất cả mọi vách đá và cây cối đại ngàn trùng trùng vây bủa.  Có khối cậu lính không chịu nổi, đã “vù té” về nhà thăm u, mấy ngày sau lại lóp ngóp bò lên, cầm sẵn bản kiểm điểm rồi lủi thủi vào rừng chặt củi; mỗi ngày trốn trai, bị phạt chặt một bó củi 30kg.
    Ừ, mà sao ngày ấy nhiều tắc kè đến thế! Lạ một điều là hình như chúng có phân công nhau, hoặc chia phần nhau,  dùng tiếng kêu của chúng ngoạm từng miếng thời gian đặc quánh bóng đêm thì phải.
    Đầu tiên là đám tắc kè choai choai đua nhau thi giọng. Bên bờ suối: Tắc kè! Phía lán ngoài bìa rừng: Tắc kè! Cả vùng núi đá vôi như vòng lưỡi cưa máy lởm chởm răng ngửa lên bầu trời, quây quanh nơi đóng quân, đâu cũng ran lên tiếng: Tắc kè...
     Tiếp sau bản hợp xướng hỗn tạp của bầy đàn là bản song ca của cặp đôi tắc kè. Tiếng con cất lên trước, trong trẻo như đang nũng nụi đòi được yêu. Tiếng con  cất lên sau nhanh nhảu như là một sự khẳng định: “Chắc rồi… chắc rồi…”! Giọng chúng quyện vào nhau, hay đáo để. Cũng cần nói thêm: Thực ra, chỉ có con đực mới biết kêu, còn con cái thì chỉ… chắc lưỡi, đúng theo tập tính cùa chúng với  cái tên khoa học là Gekko Gekko L. Thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae), bộ Thằn lằn (Lacertilia) này.
    Cuối cùng, con Tắc Kè Hoa- thủ lĩnh của bóng đêm mới điềm tĩnh “nhả đạn”. Nó chẳng bao giờ vội thì phải. Với  âm vực trầm, thật trầm, tiếng nó cất lên, cộng âm dội rung vách đá. Cả đám tắc kè kia đều im bặt. Rừng đêm ngơ ngác hỏi: Hắn muốn gì trong những lần “xiết cò “ tống vào bóng đêm cái thứ âm thanh đĩnh đạc mà lạnh lùng đến vậy? 
    Tôi đã hai lần bắt gặp con Tắc Kè Hoa thủ lĩnh ấy! Ngẫm ra tôi và nó cũng có duyên nợ với nhau lắm.
    Lần đầu tiên ở  Trại Mạ, Lục Nam, khi trung đội tôi vào rừng chặt nứa về làm lán mới. Hôm ấy mưa rừng như trút  ống  nước. Đói và lạnh thấu xương! Quẳng quách vác nứa ở bìa rừng, tôi lần vào trong hang đá  trú mưa. Vừa lọt vào màn  tối của hang đá vôi tanh tanh ấy, tôi cảm thấy chợn chợn và nắm vội chuôi dao găm: Hình như đang có kẻ nhìn mình thì phải?... Một dây chớp nhằng từ ngoài lùa vào hang thứ ánh sáng xanh lét . Ngay phía vách hang đối diện, tôi nhận ra hai con mắt màu đồng thau  đang nhìn xoáy vào tôi. À! Một con Tắc kè hoa! Cũng trong mấy giây ấy, tôi nhận ra cái câu hỏi từ đôi mắt thôi miên lồi trên chiếc đầu bẹp tam giác của nó:  “Đây là lãnh địa của tôi! Ông muốn gì nào ?”…
     Ừ, tôi chỉ trú mưa thôi mà - tôi mỉm cười thân thiện với nó. Rồi bóng tối lại  ngập hang!

Lần thứ hai thì khác. Đó là lần tôi đi bắt tắc kè.
    Được một ông Ké (già bản) bày cách , tôi chuẩn bị một sào nứa dài, đầu sào buộc vào một mớ tóc rối và trong túi đã sẵn một nắm cào cào, tôi lại vào hang đá ấy. Cũng lạ! Đố ai biết tổ tắc kè ở đâu giữa mênh mông rừng núi ấy mà bắt? Thế nhưng người ta nói: Con ếch chết vì cái miệng. Tắc kè cũng vậy! Vào mùa thu, chúng kêu nhiều nên chẳng mấy khó khăn khi dọ tìm ra hang ổ của chúng. Khi đã tìm được ổ của chúng rồi, chỉ việc dụ bắt được con đầu, còn các con sau sẽ tiếp nối ló đầu ra mà chịu chung số phận. Lần lượt, cả đám tắc kè choai choai cỡ chuôi liềm đã không kềm nỗi cái thú đớp cào cào. Răng chúng dính nhằng vào búi tóc để rồi bị thộp gáy bỏ vào dọ.
    Nhưng con Tắc Kè Hoa mà tôi đã từng gặp ấy vẫn không ló dạng. Hay là nó đã sang khu rừng khác? Định bỏ đi  thì  đầu sào của tôi bỗng giật mạnh: Hắn đây rồi! Trước mắt tôi, con Tắc Kè Hoa ấy đang  dùng bốn chân với những cái móng sắc,  cố giãy dụa trong mớ bùng nhùng tóc rối. Tôi vội thu sào lại, nhưng Nó cũng không vừa, gồng mình móc chặt những cái móng dính nhựa của nó vào vách đá để toan thụt lại vào hang. Không khéo thì  xổng mất! Tôi nhoài tới chộp vội trong sự cuống cuồng quẫy đạp của nó. Và Nó đã thoát! Trong tay tôi chỉ còn mẩu đuôi của nó ngo ngoe như trêu tức: Tạm biệt nhé, hẹn gặp lại!...

*****

 Từ khi về thành phố, tôi nhớ da diết tiếng tắc kè trong những đêm khắc khoải nhớ rừng.  Tiếng nó như là tiếng con ma xó đếm vía người: “Cắc… đùng!...”. Bao nhiêu đồng đội tôi đã gục ngã? Nhiều lắm!..

 Thời gian đã hơn ba mươi năm rồi!  Vẫn chỉ là nó đấy ư?

 Nó lại xuất hiện rồi đấy! Chắc nó nằm trên ngọn cây dừa phía sau vườn. Vẫn kiên trì, nó gõ nhịp vào bóng đêm bằng chính tiếng xưng tên  “Tắc kè” của nó.
     Giật mình nhìn lại: Chiếc kim dài đang trườn qua chiếc kim ngắn tại vạch số XII  trên mặt đồng hồ  với hai màu đen trắng . Một ngày mới lại tới rồi! Tiếng tắc kè cứ gióng lên như lời người nhắc nhở “Trễ rồi!... Trễ  rồi!”!
    Ừ! Trễ thật. Tôi vẫn còn loay hoay với những ám ảnh của bài thơ mà tôi muốn viết tặng người đời. Bài thơ như chùm tóc rối bời khi xưa con tắc kè vướng phải.
    Tắc kè!...Tắc kè!…
    


Ngày cuối cùng của Tháng 6


Mạnh Bình

 

 

 


Powered by vnWeblogs